Kiến Thức Ngày Nay Online - Tạp chí thông tin Việt Nam - Cập nhật thông tin 24 h | Tin tức | “Bỏ công kinh sử”
   Thời sự
   Kiến thức
   Tư vấn
   Văn hóa & Nghệ thuật
   Multimedia
   Tòa soạn và bạn đọc
   Thư giãn
   Kinh tế

   Các nhà tài trợ vàng


Đại Hồng Phúc
 
 
Nata Hoa Linh
 
 
Tài trợ tạp chí Kiến Thức Ngày Nay
 
 
Công ty TNHH đầu tư và phát triển Đông Tây - Ích Tâm Khang
 
 
Công ty Nguyễn Lê - Nước uống tinh khiết NEED

 

   Thành viên xuất sắc
Thành viên tích cực nhất tại diễn đàn:
Người đứng đầu:
zcuanhz (141 bài gửi)

02: teobathe (78 bài gửi)
03: sinnova (44 bài gửi)
04: thanhdat93 (37 bài gửi)
05: huongtram8195 (24 bài gửi)
06: tranjessica (23 bài gửi)
07: jessicatran (18 bài gửi)
08: reborn (18 bài gửi)
09: cpvdesign (15 bài gửi)
10: bimat (14 bài gửi)
   Software hữu ích
5 file mới nhất

1. ESBUnitConv
2. Á Việt Net Monitor
3. Free Website Scanner
4. Hacao.office201vn dành cho người Việt
5. AM-DeadLink

Chuyển đến danh mục Files
   Chơi Games Online

Aitchu1


Fun fun animals


Chinh phục thử thách


Heo con lên trời


Bilac


Các Game Online khác

   Xem và nghe Online
Bài Ca Cô Giáo Trẻ(Mây Trắng)
Hãy quay về tình yêu của em(Phạm Thanh Thảo)
Nhớ Về Tuổi Thơ(Đồng Đội)
Bão Lòng(Khánh Ngọc)
Ngày Tết Quê Em(Mây Trắng)
TVTN 14(TVTN 14)
Hoa mười giờ(Quốc Đại Việt)
Yamaha New Pop(Đang cập nhật)

Xem nghe các tác phẩm khác

 


“Bỏ công kinh sử”
29/05/2006

Xem hnh
Một lớp học tại một gia đình khá giả ngày xưa
Các nhà tài trợ kim cương


Nước ta nằm trong vùng ảnh hưởng Nho giáo của Trung Quốc cho nên từ ngàn năm trước dân ta đã được dạy rằng: “Nhân bất học bất tri lý/ Ấu bất học lão hà vi”. Làm người mà không học thì không thể hiểu được những lý lẽ của cuộc đời, tuổi trẻ mà không ...

học đến lúc lớn (già) chẳng biết làm gì. Cho nên muốn tiến thân ai cũng phải học. Nhà nước muốn có con người giỏi giúp việc phải tổ chức dạy cho dân học từ bậc thấp cho đến bậc cao và để chọn được người có học và giỏi ra làm việc nước, thì tổ chức các khoa thi từ thấp lên cao (khoa cử). Cuối mỗi bậc học có bậc thi và được cấp bằng xác nhận trình độ học vấn của người đã dự thi (sĩ tử)...

Một viên khảo quan

Việt Nam đã có khoa cử từ triều Lý. Năm 1075, nhà vua cho mở khoa thi Tam trường để chọn những người “minh kinh bác học”, ông Lê Văn Thịnh người đất Đông Cứu huyện Gia Định đậu khôi nguyên, là vị khoa bảng đầu tiên của nước ta, được bổ làm quan dẫn đầu phái đoàn ngoại giao đi sứ Tống, làm đến chức thái sư, dạy vua. Năm 1086, vua Lý Nhân Tông lại mở Khoa thi văn học chọn người có trình độ cao để bổ sung vào hàn lâm viện, ông Mạc Hiển Tích đỗ đầu. Đời Lý Nhân Tông lại tổ chức thi Thái học sinh (như thi Tiến sĩ thời Lê và thời Nguyễn sau này), ai trúng tuyển sẽ được bổ ra làm quan.


Trải qua các triều Trần, Hồ, Lê, Nguyễn việc tổ chức khoa cử, cải cách nhiều, nhưng những nội dung cơ bản vẫn giữ. Nền khoa cử thời quân chủ đã tuyển chọn được hàng ngàn nhân tài ra giúp nước. Do đó trong lịch sử khoa cử Việt Nam xưa có nhiều chuyện thú vị. Trong bài viết ngắn này chúng tôi tìm hiểu một vài sự việc của triều Nguyễn - triều đại quân chủ cuối cùng đã làm gì để khuyến khích, vinh danh người đỗ đạt thời đã qua.


Theo hồi ký của các vị khoa bảng cũ, trẻ con lên bảy hay tám tuổi  bắt đầu đi học. Thầy giáo là các ông Khoá, ông Đồ, ông Tú “ngồi” dạy học trong làng, hay trong các nhà khá giả. Các ông cử, ông tú, ông đồ người Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị thường vào Huế tìm nơi dạy học và học thêm để đi thi Hội. (Cụ cử Nguyễn Sinh Sắc người Nghệ An - thân sinh của Bác Hồ, đã từng vào Huế làm gia sư như thế). Trong một lớp học có thể có học trò mới khai tâm vỡ lòng nhưng cũng có những học trò sắp đi thi Hương (lấy bằng cử nhân, tú tài). Do đó thầy giáo nhờ học trò đàn anh kèm cho đàn em học, giảm bớt một phần công việc dạy dỗ của thầy.


Học trò học chữ Hán tại các trường phủ, trường huyện thì gọi là khoá sinh, đã từng đi thi thì gọi là thí sinh nhưng tục vẫn kêu là thầy khoá. Hằng năm quan đốc học ở các tỉnh tổ chức sát hạch học trò trong tỉnh. Những khoá sinh đã đỗ ở tỉnh rồi mới được đi thi Hương do triều đình tổ chức ba năm một lần tại các địa phương đã ấn định. Người đỗ đầu ở tỉnh gọi là ông đầu xứ (cụ Phan Bội Châu từng là đầu xứ của Nghệ An). 


   Vào các năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu triều đình tổ chức thi Hương ở các tỉnh Thừa Thiên, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Định, Gia Định (thời Bắc kỳ và Nam Kỳ chưa thuộc Pháp). Vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi triều đình tổ chức thi Hội và thi Đình tại kinh đô Huế, tức năm trước thi Hương, năm sau thi Hội.


Quan cảnh lễ xướng danh Thi Hương ở Thừa Thiên
Thi Hương, ai đỗ đầu gọi giải nguyên, ai đỗ cao là cử nhân (gọi là ông cử), ai đỗ thấp là tú tài (thường gọi là thầy tú hay là thầy đồ, vì đời nhà Lê gọi là sinh-đồ).


Đỗ cử nhân xong các thí sinh đến kinh đô Huế thi Hội. (Cũng có một số ngoại lệ - những người đỗ tú tài mà nổi tiếng học giỏi cũng được đến Kinh thi Hội). Thi Hội ai đỗ cao được tiếp tục vào sân vua thi Đình (Điện thí), ai đỗ thấp (đỗ vớt) được ghi tên vào bảng phụ gọi là phó bảng (thường gọi là quan bảng). 


Kết quả thi Đình thời Nguyễn được xếp thứ tự từ trên xuống dưới như sau:


- Đệ nhất giáp tấn - sĩ cập đệ, đệ nhứt danh: Trạng nguyên


- Đệ nhứt giáp tấn - sĩ cập đệ, đệ nhị danh: Bảng nhãn


- Đệ nhứt giáp tấn - sĩ cập đệ, đệ tam danh: Thám hoa


- Đệ nhị giáp tấn - sĩ xuất thân: Hoàng giáp


- Đệ tam giáp đồng tấn - sĩ xuất thân: Tiến sĩ.


Để tránh chuyện chuyên quyền bè phái, nhà Nguyễn đề ra 4 việc không lập (tứ bất lập): trong triều không lập tể tướng, ở chốn hậu cung không lập hoàng hậu, không lập thái tử và kết quả thi Đình không lấy trạng nguyên cho nên người đỗ cao nhất thời Nguyễn cũng chỉ tới bảng nhãn là cùng.


Người ta thường gọi các ông đỗ thi Đình theo thứ bậc trên là ông bảng nhãn, thám hoa, hoàng giáp, riêng tiến sĩ thì người ta thường gọi là quan nghè. Nghè xuất phát từ chữ Nghi. Vì đời Lê, các ông tấn sĩ được bổ vào Nghi Văn Đường như hàn lâm viện ngày nay.


Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, đa số các nhà khoa bảng Việt Nam đều xuất thân từ nông thôn nghèo khổ. Để cổ vũ cho thanh niên nông thôn tiến thân bằng con đường khoa cử, nhà nước thời quân chủ đã có những hình thức vinh danh những người đỗ đạt trở thành một nét đẹp văn hoá của dân tộc, là ước mơ của bao thế hệ tuổi trẻ Việt Nam xưa.


1. Lễ xướng danh - Lễ truyền lô


Lễ xướng danh là lễ thông báo kết quả của kỳ thi Hương. Xướng là gọi to và hơi kéo dài, danh là tên. Đây là giây phút hồi hộp nhất của cuộc đời thí sinh. Lễ xướng danh tổ chức trước cổng trường thi. Hôm đó cổng trường được treo cờ kết hoa rất vui. Các quan khảo thí mặc triều phục ngồi trên ghế tréo cao đặt hai bên con đường dẫn từ Nhà thập đạo ra đến cửa trước. Pháo nổ, trống giục, chuông reo, người đi xem đông như ngày hội.


Khi lễ xướng danh bắt đầu, viên lại phòng cầm danh sách những người đỗ đọc từng tên cho người truyền lệnh sứ mặc áo xanh nẹp đỏ cầm loa nghe và trương gân cổ xướng lại thật to tên họ quê quán người đỗ. Người được xướng đầu tiên là thí sinh đỗ thủ khoa (giải nguyên). Bên ngoài lại có một người lính khác cầm loa ngửa mặt lên trời xướng nhắc lại một lần nữa để cho những người đứng xa có thể nghe được. Tân khoa nghe xướng đúng tên mình thì “dạ” một tiếng thật to rồi rẽ đám đông tiến đến cổng trường trình diện và lãnh áo mũ. Lãnh xong, ông tân khoa vào ngồi trên chiếc chiếu cạp điều trải trên đất trong cái rạp che bằng cót dựng trước nhà Thập đạo. Ông thủ khoa (đỗ đầu) ngồi đầu chiếu bên dãy lẻ, ông á nguyên (đỗ thứ nhì) ngồi chiếu đầu dãy chẵn.   


 

Bài thi Hội của thí sinh Võ Nhị Cát
(đỗ đầu tiến sĩ khoa Quí sửu 1913);
tư liệu của gia đình họ Võ Trúc Lâm

Lễ xướng danh xong người ta mới yết bảng. Bảng đỗ cử nhân gọi là Hổ bảng, bảng đỗ tú tài là Mai bảng. 


Việc xướng tên những người đỗ tiến sĩ sau kỳ Điện thí không gọi là Lễ Xướng danh mà gọi là Lễ truyền lô rất long trọng.


Thông thường Lễ truyền lô cử hành tại điện Thái Hoà, hoặc tại Ngọ Môn. Vào ngày ấy điện Thái Hoà thiết lễ Đại triều, trên Kỳ đài treo cờ vàng. Ở gian thứ nhất bên phải của điện đặt hai hoàng án. Danh sách tiến sĩ tân khoa đặt trên hoàng án thứ nhất, Hoàng bảng (bảng ghi tên những người thi đỗ để niêm yết) đặt trên hoàng án thứ hai.


Đến giờ hành lễ, vua ngự ra điện Thái Hoà. Quan Khâm mệnh làm lễ phục mệnh; các quan giám thí, quan độc quyển, các viên chức liên hệ đến khoa thi cùng thi lễ năm lạy. Tiếp đến thị vệ đại thần đến quì ở gian thứ nhất bên trái của điện tâu xin làm Lễ truyền lô. Vua ra hiệu cho hành lễ. Quan thị vệ rập đầu đứng lên và đi đến dưới thềm gian thứ hai bên trái điện và xướng lên: “Truyền lô! ”.


Được lệnh, quan truyền lô bước đến hoàng án thỉnh danh sách thí sinh trúng tuyển xuống. Quan Bộ lễ xướng: “Truyền lô!”. Quan truyền lô cầm danh sách, theo thứ tự tuyên đọc. Đọc xong giao cho viên quan Bộ lễ tiếp nhận. Các quan giám thí, độc quyển đưa các tân tiến sĩ vào Văn Công thự lãnh mỗi người một bộ mũ áo. Họ quỳ đón lấy áo mũ và hai tay dâng  lên ngang trán, khẽ cúi đầu năm lần rồi mặc áo và đội mũ đứng chờ. Quan kinh dẫn thuộc Bộ lễ hướng dẫn họ đến sân Điện quay mặt về hướng bắc và hạ mình quỳ. Quan Bộ lễ xướng: “Phủ phục!”. Các tân tiến sĩ làm lễ năm lạy. Lễ xong đứng nguyên vị trí. Tiếp đến quan thị vệ đến trên thềm ở gian thứ nhất bên trái quỳ tâu xin niêm yết bảng. Các viên thư tả mang

Các vị tân khoa cử nhân ăn yến

Hoàng bảng xuống trao cho quan Hộ bảng. Bảng vàng được đặt lên Vân bàn (mâm vẽ mây), quan hộ bảng dẫn thị vệ cùng quân lính đầy đủ nghi tượng tán lọng, nhã nhạc, mang Vân bàn ra cửa đặt lên Long đình. Chờ vua hồi cung xong, quan Hộ bảng cho gánh Long đình ra Phu Văn Lâu niêm yết. Bảng yết ở đây ba ngày, sau đó giao cho Quốc Tử Giám lưu trữ. Các tân tiến sĩ thứ tự theo sau đám rước để xem bảng.


2. Ban yến


Sau Lễ truyền lô, nhà vua còn tổ chức ban yến (tiệc đãi tân khách) để tuyên dương các tân tiến sĩ đồng thời ban thưởng cho những người vừa lo liệu việc thi cử.


Nơi tổ chức ban yến thời Nguyễn không cố định. Thời Minh Mạng yến được tổ chức tại công đường Bộ lễ, sau chuyển đến vườn Thư Quang, gọi là yến Thư Quang. Thời Thiệu Trị tổ chức tại vườn Thường Mậu (1), thời Tự Đức trở lại tổ chức tại công đường Bộ lễ như xưa.


“Trong những dịp tổ chức tại công đường Bộ lễ thì trước công đường cho dựng lên một rạp bằng tre gồm nhiều gian. Ngay gian chính giữa thiết hương án để vọng bái. Còn những gian khác thiết ván, kỷ để ngồi, bàn để dọn yến. Các gian bên tả và hữu của gian giữa thiết Hồng án (bàn sơn đỏ) để đặt các phẩm vật ban thưởng.


Trong trường hợp tổ chức tại các hoa viên như Thư Quang, vườn Thường Mậu thì dựng ngay rạp trước cổng ra vào vườn, cho giăng đèn kết hoa, ngay gian chính giữa cũng thiết lập hương án để người dự yến vọng bái”.(2)  


Tiệc yến phân làm hai hạng: thượng hạng, mỗi bàn hai người  dành cho các quan đứng đầu việc coi thi như giám thí, độc quyển, truyền lô, tuần la...; hạng trung ít món hơn, dành cho các quan cấp dưới như thu quyển, tuần sát... và các tiến sĩ tân khoa. Đặc biệt những người đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ được ngồi riêng một bàn. Về phẩm vật, những người đỗ Tiến sĩ đệ nhất giáp mới được thưởng trâm hoa mạ vàng, còn các hạng kém hơn chỉ được thưởng trâm hoa mạ bạc. Ngoài ra còn ban thưởng thêm lụa, đoạn hoặc nhiễu và tiền đồng có khắc chữ Sử Dân Phúc Thọ, Phúc Thọ Đa Nam...


3. Cưỡi ngựa, xem hoa


Vào năm Minh Mạng thứ 19 Mậu Tuất (1838), xong buổi yến tại vườn Thư Quang, các tân tiến sĩ được quan kinh dẫn hướng dẫn xem hoa ngay tại vườn này. Về sau đến triều Thiệu Trị mở yến tại vườn Thường Mậu thì cũng cho các tiến sĩ xem hoa tại vườn ấy. Đến triều Tự Đức tổ chức ăn yến tại công đường Bộ lễ, cho các tiến sĩ ra xem hoa tại hồ Tĩnh Tâm.


Xong việc thưởng hoa, các tân tiến sĩ mỗi một người được cấp một lọng đen, một hồ lô đen, một con ngựa kèm 4 tên lính quân phục đầy đủ. Sau đó quan kinh dẫn hướng dẫn các tiến sĩ cưỡi ngựa ra cửa Chính Đông (Đông Ba) ngoài Kinh thành đi ngắm các ngõ phố chung quanh.


Hôm khác, quan kinh dẫn lại hướng dẫn các tân yiến sĩ vào điện Văn Minh để dâng biểu tạ ơn vua, đem thực học của mình để tâu trình. Xong xuôi, quan Bộ lễ sẽ chọn ngày tốt để các tân tiến sĩ làm lễ ở Văn Thánh (phía trên chùa Thiên Mụ) với sự có mặt của các quan tế tửu, tư nghiệp ở Quốc Tử Giám.


4. Ân tứ vinh quy


Học trò thi đỗ cử nhân thì được dân làng tổ chức rước, có cờ, trống đại, trống tiểu, ban nhạc và một hương án. Đám rước đến trước cổng trường thi chờ rước ông cử nhân của làng mình. Hương án dùng để rước những phẩm vật của vua ban, tức là bộ áo mũ cử nhân, tượng trưng cho cái danh giá nhân tài mà triều đình đã tuyển chọn. Khi vị tân khoa về đến làng, tùy theo địa phương, ông được thưởng ruộng hoặc tiền. Nhưng vinh dự nhất là vị tân khoa được làng trọng nể hơn ai hết. Nhiều người cho biết ở xứ Thanh, xứ Nghệ và các tỉnh Bắc kỳ có làng đặt giữa đình một cái sập riêng, chỉ dành cho người có khoa mục ngồi. Người khác dù làm quan to đến mấy mà không có khoa mục cũng không được ngồi. Còn những người chỉ đậu tú tài thì không được phát áo mũ, và các làng không có lệ rước tú tài.


Các vị tân khoa cử nhân trường
Hà Nam cuối thế kỷ XIX

 
Đối với các vị tân khoa tiến sĩ (từ thời Thành Thái có cả phó bảng) thì đám rước còn linh đình hơn, gọi là “Ân tứ vinh qui” hay thường gọi là vinh qui bái tổ. Mỗi khoa thi Hội/thi Đình, Thừa Thiên-Huế chỉ đỗ vài ba người, nhiều khoa chỉ có một người (khoa Tân sửu 1901, Thừa Thiên-Huế chỉ có một mình ông Nguyễn Viết Song làng Dã Lê đỗ tiến sĩ thôi), phần lớn tiến sĩ ở các tỉnh, đặc biệt là Nghệ Tĩnh và Quảng Nam. Do đó, nhà vua ban ân những phương tiện và lộ phí cần thiết cho các ông tân khoa tiến sĩ vinh qui bái tổ. Thời Minh Mạng, các vị tân khoa được cấp 5 phu (2 người cầm biển, 2 người gánh võng, 1 người mang đồ đạc). Đến thời Tự Đức (1865), có phân thứ bậc: những người đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ được cấp 5 phu như cũ, những người đỗ từ Đệ nhị giáp trở xuống Đệ tam giáp chỉ được cấp 4 phu (2 người lo cờ biển, 2 người gánh võng). Ai cần thêm người có thể tự ý đi thuê. Ngoài ra triều đình còn sắc cho các quan địa phương phủ, huyện cử mười hay hai mươi quân lính binh phục đầy đủ để hộ tống tiến sĩ trở về nguyên quán. Khi về đến làng thì được các dân làng ra nghênh đón.


Về cờ ban cấp thì:


Đệ nhất giáp tiến sĩ được ban cờ lụa Lục nam màu đỏ, có đính các chữ bằng tơ vàng: “Sắc tứ Đệ nhất giáp Đệ... danh tiến sĩ cập đệ”.


Đệ nhị giáp tiến sĩ và Đệ tam giáp thì cờ bằng tơ đính chữ bằng vải, cũng mang hàng chữ “Sắc tứ Đệ nhị (hoặc tam) giáp tiến sĩ xuất thân (hoặc Đồng tiến sĩ xuất thân)”.


Biển thì hoàn toàn giống nhau có màu đỏ khắc hàng chữ vàng “Ân tứ vinh qui”.


Những tiến sĩ đỗ tam nguyên liên tiếp (đầu ba kỳ Hương, Hội, Đình) đều được mang cờ đính 4 chữ Hán “Liên trúng tam nguyên”.


Đám rước tân khoa vinh quy bái tổ (Ân tứ vinh quy)

Để đón vị tân khoa, trên những con đường đám rước tân khoa đi qua đều được treo đèn, kết hoa rực rỡ, đặc biệt là đình làng và nhà thờ họ của vi tân khoa - hai nơi vị tân khoa phải đến làm lễ bái tổ. Ở Thừa Thiên-Huế, ngày vị tân khoa về làng, dân làng tổ chức thành đoàn lên Kinh rước về như đám rước các cử nhân nói trên. Dân trong làng còn chờ đón vị tân khoa từ đầu làng. Các vị tân khoa ngoại tỉnh, các quan đầu tỉnh, đầu huyện đầu xã nguyên quán của vị tân khoa ra đến đầu tỉnh đón trong khung cảnh cờ xí chuông trống rộn ràng. Trong đời sống xã hội xưa không có sinh hoạt nào vui, sung sướng, tự hào của dân địa phương bằng ngày đi đón người con của làng đỗ đại khoa vinh qui bái tổ. Nhiều vị tân khoa đã có gia đình, đã từng được vợ tảo tần nuôi cho ăn học. Người sung suớng nhất ra đón vị tân khoa chính là người vợ hiền của ông. Nỗi vui mừng ấy đã từng được Nguyễn Bính viết thành thơ Trăng Sang Vườn Chè và đã được phổ nhạc:    


...“Chồng tôi cưỡi ngựa vinh qui


Hai bên có lính hầu đi dẹp đường


Tôi ra đón tận cuối  làng


Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem”


Bái tổ xong, các tiến sĩ chỉ được lưu lại quê tối đa hai tháng rồi phải trở lại Kinh chờ bổ dụng.


Lễ rước vị tân khoa “Vinh qui bái tổ” thể hiện sự trọng vọng của xã hội xưa - từ vua quan xuống đến thứ dân, đối với người có học. Đây là một hoạt động văn hoá truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Sau một thời gian nghiên cứu, Festival Huế 2006 sẽ phục dựng lại Lễ truyền lô, đãi yến và rước tân khoa vinh qui bái tổ.


 


(1) Vườn Thư Quang và vườn Thường Mậu đã bị người Pháp triệt hạ cùng với nhiều cung điện khác để làm sân bay Tây Lộc (đầu thế kỷ XX). Địa điểm cũ nằm phía bắc cầu Khánh Ninh, nay thuộc phường Tây Lộc, TP Huế.


(2) Khoa cử và các nhà khoa bảng Triều Nguyễn,... Nxb Thuận Hoá, Huế 2000, tr.111.


 


Tham khảo


- Ăn cơm mới nói chuyện cũ, ghi chép của cụ Phó bảng Bùi Hữu Thứ (Di cảo chưa xb).


- Khoa cử Việt Nam, thi Hương, của Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Nxb Văn học và TTNCQH, TPHCM 2003.


- Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn, Phạm Đức Thành Dũng và ....,  TTBTDTCĐH, Nxb Thuận Hoá,Huế 2000.                                       


- Khúc tiêu đồng, hồi ký của cụ Cử nhân Hà Ngại, (Bản dánh máy chưa xb)


- Lô Giang Tiểu sử, niên ký của cụ Phó bảng Nguyễn Văn Mại (bản ronéo chưa xb).


- Lối xưa xe ngựa (tập I), của Nguyễn Thị Chân Quỳnh, An Tiêm, Paris 1995.

 

Nguyễn Đắc Xuân (Theo Kiến Thức Ngày Nay 563)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:
Ngủ trên tay ba (21/02/2008)
12 món quà (25/07/2006)



Ln đầu trang
Tin mới cùng chuyên mục
Ngủ trên tay ba
"Cuộc đời đâu phải tự nhiên xanh..."
Vườn Xuân Lan tạ chủ - mở đầu hành trình đi tìm cái đẹp của Nguyễn Tuân
Vườn Xuân Lan tạ chủ - mở đầu hành trình đi tìm cái đẹp của Nguyễn Tuân
Văn tế bạn chài Nghĩa An

Bài được đọc nhiều nhất
CÓ MỘT LOÀI HOA NHƯ THẾ...
Bất ngờ cuộc sống quanh ta: Những câu kệ trong lòng chuông
Mấy món quà của học sinh Hà Nội xưa
"Cuộc đời đâu phải tự nhiên xanh..."
Vườn Xuân Lan tạ chủ - mở đầu hành trình đi tìm cái đẹp của Nguyễn Tuân

   Chuyển đổi tiền tệ
  Số tiền:
  
  Từ
  
  Thành
  
 
   Từ điển

Tra theo từ điển:


   Bách khoa tòan thư
get info from WikiPedia


 
Tài trợ Kiến Thức Ngày Nay Online - kienthucngaynay.vn

Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử - Kiến Thức Ngày Nay Online
Số giấy phép: 395/GP-BVHTT, cấp ngày: 18/09/2002. Tổng biên tập: TS Nguyễn Thị Kim Ửng
- Chủ biên: Hàn Tấn Quang
Ghi rõ nguồn 'kienthucngaynay.vn' khi bạn phát hành lại thông tin từ website này. Trụ sở tòa soạn: 16 Trần Quý Khóach P.Tân Định Q.1 Tp.HCM
Liên hệ quảng cáo: Công ty TNHH TM - DV Ân Minh - 221/2 Trần Quang Khải P.Tân Định Q.1, Tp.HCM - Điện thoại: (848) 62911952 - Fax: (848) 62911951
Email: kienthucngaynay.vn@gmail.com - Website: www.anminh.com - Facebook: www.facebook.com/TapChiKienThucNgayNay | BẢNG GIÁ QUẢNG CÁO |